Hai tháng sau khi Hiệp định hòa bình Paris được ký kết, những người
lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam khi Hà Nội thả tự do những tù nhân
Mỹ bị giam giữ ở miền Bắc Việt Nam.
Cuộc can thiệp trực tiếp kéo dài 8
năm của Mỹ vào Chiến tranh Việt Nam đang đi đến hồi kết thúc. Tại Sài
Gòn, khoảng 7.000 nhân viên dân sự thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ vẫn tiếp tục ở
lại để viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến khốc liệt kéo
dài với Cộng sản Bắc Việt.
Năm 1961, sau hai thập niên viện trợ quân sự gián tiếp, Tổng thống
John F. Kennedy gửi một lực lượng lớn binh lính Mỹ đến Việt Nam để củng
cố chế độ độc tài thiếu hiệu quả của miền Nam Việt Nam chống lại Cộng
sản miền Bắc. Ba năm sau, với việc chính phủ miền Nam Việt Nam sụp đổ
(sau cái chết của Tổng thống Ngô Đình Diệm và 14 cuộc đảo chính liên
tiếp trong vòng một năm rưỡi sau đó), Tổng thống Lyndon B. Johnson ra
lệnh oanh tạc Bắc Việt Nam, và Quốc hội Mỹ đã phê chuẩn việc sử dụng
quân đội Mỹ. Năm 1965, các chiến dịch tấn công của Bắc Việt buộc Tổng
thống Johnson đứng trước hai sự lựa chọn: tăng cường sự can thiệp của
quân đội Mỹ hoặc rút quân. Johnson chọn tăng cường, quân số nhanh nhóng
nhảy vọt tới hơn 300.000 khi lực lượng không quân Mỹ bắt đầu chiến dịch
ném bom lớn nhất trong lịch sử.
Hai tháng sau khi Hiệp định hòa bình Paris được ký kết, những người
lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam khi Hà Nội thả tự do những tù nhân
Mỹ bị giam giữ ở miền Bắc Việt Nam.
Cuộc can thiệp trực tiếp kéo dài 8
năm của Mỹ vào Chiến tranh Việt Nam đang đi đến hồi kết thúc. Tại Sài
Gòn, khoảng 7.000 nhân viên dân sự thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ vẫn tiếp tục ở
lại để viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến khốc liệt kéo
dài với Cộng sản Bắc Việt.
Năm 1961, sau hai thập niên viện trợ quân sự gián tiếp, Tổng thống
John F. Kennedy gửi một lực lượng lớn binh lính Mỹ đến Việt Nam để củng
cố chế độ độc tài thiếu hiệu quả của miền Nam Việt Nam chống lại Cộng
sản miền Bắc. Ba năm sau, với việc chính phủ miền Nam Việt Nam sụp đổ
(sau cái chết của Tổng thống Ngô Đình Diệm và 14 cuộc đảo chính liên
tiếp trong vòng một năm rưỡi sau đó), Tổng thống Lyndon B. Johnson ra
lệnh oanh tạc Bắc Việt Nam, và Quốc hội Mỹ đã phê chuẩn việc sử dụng
quân đội Mỹ. Năm 1965, các chiến dịch tấn công của Bắc Việt buộc Tổng
thống Johnson đứng trước hai sự lựa chọn: tăng cường sự can thiệp của
quân đội Mỹ hoặc rút quân. Johnson chọn tăng cường, quân số nhanh nhóng
nhảy vọt tới hơn 300.000 khi lực lượng không quân Mỹ bắt đầu chiến dịch
ném bom lớn nhất trong lịch sử.
Đề tài này tôi đã viết vài lần trước đây nên sẽ không đề cập nhiều về
chi tiết, trong phần nhận xét sẽ đánh giá lại hậu quả của di tản, xin
được trình bầy lại trong dịp 42 năm biến cố bi thảm này
Đầu tháng 2 năm 1968, trận đánh Tết Mậu thân nổ ra ngay giữa mấy chục
tỉnh và thị xã lớn tại miền nam VN, người ta cho là chiến tranh đã tới
giai đoạn tàn khốc nhất và sẽ phải có hòa bình. Nhưng mấy năm sau đó
dưới thời tân Tổng thống Nixon, cuộc chiến lại khốc liệt hơn gấp bội
lần, những trận đánh lớn qui ước cấp sư đoàn, quân đoàn diễn ra liên
tiếp. Mặc dù Mỹ-Việt Nam Cộng Hòa thắng lợi về quân sự nhưng nó không
đóng vai trò quyết định mà thực ra trận Mậu Thân tuy cường độ khiêm tốn
hơn nhưng đã thay đổi khúc quành cuộc chiến. Miền Nam đánh thắng một
trận lớn nhưng thua trận, số phận bi thảm của Đông Dương đã được quyết
định từ đây. Người Mỹ quá chán nản mệt mỏi cuộc chiến, họ chống đối dữ
dội đòi chính phủ phải rút ra khỏi Đông Dương
Lịch sử luôn có hai mặt: một bên là những câu chuyện được tô vẽ bởi kẻ chiến thắng, một bên là sự thật trần trụi của những con người chịu tổn thương.
Tôi, sinh ra ở Miền Bắc XHCN hàng chục năm khi tiếng súng đã vắng bóng, lớn lên với những bài học lịch sử ca ngợi cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 như một chiến thắng vang dội, một “bước ngoặt” mang tính quyết định. Nhưng tôi tự hỏi đó là chiến thắng kiểu gì khi xé bỏ thoả thuận ngừng bắn để đột kích người dân trong dịp Tết cổ truyền.
Sách giáo khoa nói rằng cuộc tấn công vào Huế là một thành công, nhưng họ không kể về những hố chôn tập thể, những gia đình bị xé nát, những người dân vô tội bị xử tử chỉ vì có liên hệ với chính quyền miền Nam VNCH. Họ không nói rằng giữa lúc giao thừa, thay vì pháo hoa và lời chúc năm mới, thành phố Huế chìm trong khói lửa, tiếng súng và tiếng khóc than. Họ gọi đó là “trận đánh vinh quang,” nhưng với bao nhiêu gia đình, đó là ngày họ mất đi cha mẹ, vợ chồng, con cái – những mất mát không thể nào bù đắp.
Điều khiến tôi đau lòng hơn là khi so sánh với một sự kiện khác trong lịch sử thế giới – lệnh ngừng bắn Giáng sinh năm 1914 giữa quân đội Đức và phe Đồng minh trong Thế chiến thứ Nhất. Khi đó, dù là kẻ thù trên chiến trường, những người lính hai bên vẫn đồng lòng tạm ngừng chiến trong đêm Giáng sinh. Họ bước ra khỏi chiến hào, bắt tay nhau, cùng hát thánh ca, thậm chí còn chơi bóng đá giữa chiến trường. Chỉ trong một khoảnh khắc, con người đã vượt lên trên lòng hận thù, nhận ra rằng dù họ đứng ở hai phía khác nhau, họ vẫn cùng chia sẻ một nhân tính.
Nhưng biến cố Mậu Thân năm 1968, ngay trong những giờ khắc linh thiêng nhất của Tết cổ truyền, khi người Việt Nam lẽ ra phải sum vầy, chúc nhau bình an, thì súng đạn lại vang lên, không phải từ kẻ ngoại xâm mà từ chính người Việt giết hại người Việt. Trong khi lính Đức và phe Đồng minh còn có thể đặt súng xuống để tôn trọng một ngày lễ thiêng liêng, thì tại Huế, hàng nghìn người đã bị tước đoạt mạng sống bởi “sự lãnh đạo tài tình” của ĐCSVN.
Sự tương phản ấy làm tôi rùng mình. Nó khiến tôi nhận ra rằng cuộc chiến này không chỉ là một cuộc chiến tranh giành lãnh thổ hay ý thức hệ, mà còn là một cuộc chiến đã làm suy đồi lòng nhân đạo.
Khi nhân danh một lý tưởng mà con người có thể giết hại chính đồng bào mình trong đêm thiêng liêng nhất của dân tộc, thì đó không còn là một cuộc chiến tranh chính nghĩa nữa – đó là một tham vọng chiến thắng bất chấp luân thường đạo lý.
Nhận ra sự thật này không phải để khơi dậy hận thù, mà là để không tiếp tục sống trong sự dối trá. Nếu những sự kiện như Tết Mậu Thân vẫn bị vinh danh một cách phiến diện, thì lịch sử sẽ chỉ là một vòng lặp đau thương.
Tôi không muốn thế hệ sau của chúng tôi cũng phải trải qua cảm giác cay đắng khi nhận ra rằng họ đã bị lừa dối suốt bao năm, như tôi hôm nay.
Những hình ảnh chứng minh bày tay dính máu của Hồ c Minh và đồng bọn trong Biến cố MẬU THÂN 1968.
Trận chiến Tết Mậu Thân tại Sàigòn và Chợ Lớn năm 1968
HCM và đồng bọn đã lật lọng tráo trở "lệnh ngưng bắn" trong Tết Mậu Thân.
Chúng lợi dụng VNCH giữ đúng "luật ngưng chiến", Bộ Tổng tham mưu VNCH
đã ra lệnh bỏ cấm trại, quân nhân được nghỉ phép ăn Tết, lệnh giới
nghiêm toàn miền Nam được chính phủ bãi bỏ để người dân hưởng trọn vẹn
hương vị tết dân tộc trong những ngày hưu chiến.
Không
phải mãi hai ngày sau người Mỹ mới biết lý do đằng sau vụ di tản rút
quân bỏ miền Trung. Vào buổi tối ngày 17.3.1975, tại bữa cơm đãi một số
Viên Chức cao cấp Mỹ và Việt Nam tại nhà ông Thomas Polgar, Trưởng CIA, ở
Sài Gòn, Tướng Ðặng Văn Quang Cố Vấn An Ninh của Tổng Thống Thiệu, đã
lật trang sử khi giải thích quyết định của ông Thiệu. Rất giống người
Nga tiêu diệt đội quân của Nã Phá Luân vào năm 1812 bằng cách bỏ đất để
câu giờ hầu chấn chỉnh tổ chức quật ngược thế cờ, Tướng Quang cho rằng
quyết định của ông Thiệu đi theo chiến lược đó sẽ đánh bại quân Bắc
Việt. Tướng Quang nói ‘’Có thể mùa mưa sẽ giúp chúng tôi như thể Ðại
Tướng mùa Đông đã giúp người Nga’’.
Dân Đà Nẵng, Huế và nhiều thành phố khác ở miền Trung trong cảnh tháo chạy; ảnh chụp ngày 4 Tháng Tư 1975, Getty Images
Di tản tháng 3, 1975 từ Trị Thiên vào Đà Nẵng qua đèo Hải Vân
***
Những ngày cuối cùng của Huế và Đà Nẵng
Phóng sự hồi ký của Lê Hùng 2015.03.04
Một tàu đổ bộ của Hải quân Việt Nam chất đầy người tị nạn từ Huế, ghé Đà Nẵng hôm 24/3/1975.
Courtesy of Bettmann/CORBIS
Ngay sau khi CS cướp được Huế và Đà Nẵng ngày 29 tháng 3 năm
1975. Ngày 5 tháng 4 năm 1975 họ đã tập trung tất cả số sĩ quan QLVNCH
còn kẹt lại tại Đà Nẵng và đưa đi gọi là “tập trung cải tạo” bắt đầu cho
những năm tháng đọa đày triền miên sau này.
Siêu
thị Nguyễn Du, khu siêu thị đầu tiên ở Sài Gòn và có thể nói là toàn
cõi VN mở cửa năm 1967, mang đến cho nhiều gia đình công tư chức ở Sài
Gòn những tiện lợi trong chuyện mua sắm mà trước đó không hề có.
Một
dịp sát tết, tôi được đến siêu thị với anh trai, thấy nó giống một cửa
hàng cực lớn, máy lạnh mát rượi và đầy những thứ lạ lẫm. Khách mua
hàng toàn những người lớn ăn bận lịch sự, nam với áo chemise bỏ vào
quần, những người lính và nhiều phụ nữ bận áo dài. Do xe đẩy không có
nhiều như bây giờ, khách mua hàng toát mồ hôi sắp hàng tính tiền, tay
lủ khủ hàng hóa trong những cái túi lưới.
Diễn viên điện ảnh Kiều Chinh đến mua hàng tại siêu thị Nguyễn Du trước 1975 - Ảnh: Tư liệu
Siêu thị Nguyễn Du ở góc Nguyễn Du và Chu Mạnh Trinh, Sài Gòn do Tổng cuộc Tiếp tế thành lập.
Sự cố!
Một danh từ mà phe Việt Cộng mang vào thủ đô Sài Gòn của chính quyền
miền Nam VNCH ngay sau buổi trưa ngày 30-4-1975. Sự cố, nguyên là từ Hán
Việt chỉ một việc vừa xảy ra (Chữ Sự thuộc bộ Quyết, chữ Cố thuộc bộ
Phác) nhưng hầu như được hiểu là điều bất thường và không hay xảy ra
trong một quá trình hoạt động nào đó: Máy có sự cố, có sự cố trên đường
đi... (Đại Từ điển tiếng Việt, trang 1408). Ít người thuộc phía miền Nam
VNCH biết đến danh từ này ngoại trừ những ai đã từng có thời gian làm
việc, sống gần với phe Việt Cộng như trong các phiên họp, tù giam ở các
nhà lao, nhà máy, khu vực doanh trại bộ đội...
Bài viết này, tác giả viết về các sự cố xảy ra ở những buổi trao trả tù
binh cho phe Việt Cộng trong thời kỳ thi hành Hiệp Định Ba Lê 1973.
Trước tiên, tác giả xin giải thích chữ Việt Cộng dùng trong bài viết là
để chỉ chung Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam (tức Mặt Trận Giải
Phóng và sau này họ cải danh là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa
miền Nam Việt Nam (sau ngày 6-6-1969) nhưng ai cũng biết cả hai phe họ
đều là một và đều do chính quyền Hà Nội chỉ huy).
1. Tại Tuy Hòa , Vạn Ninh (Tỉnh Phú Yên, Tỉnh Khánh Hòa)
Ngày 23-3-1975 phần đuôi đoàn xe di tản bị mắc kẹt trên Tỉnh Lộ 7 gần
quận Phú Túc, cách Thành Phố Tuy Hòa khoảng 40 km về phía tây, vì pháo
cọng sản bắn vào đoàn xe ở phía trước
Ngày nào dân
chạy trối chết vì không có chỗ dung thân trên
chính quê hương mình.
Ngày nay có những kẻ
mang danh tỵ nạn mà lại ôm tiền về nuôi béo
chế độ VC,
ai ngu ..???!!!!
****
Hình ảnh những ngày tháng đau thương xưa của người dân Miền Nam VN , do cuộc chiến gây ra bởi csVN !
(1975)
TạiBan Mê Thuột
-
2 giờ 20 sáng ngày thứ hai - 10 tháng 3 năm 1975, quân cộng sản bắc
việt bắt đầu nã pháo đại bác 130 ly, hỏa tiển 122 ly vào các cứ điểm
quân sự và Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu .
-
4 giờ chiều ngày thứ hai - 10 tháng 3 năm 1975, quân cộng sản bắc việt
chiếm thị xã Ban Mê Thuột, ngoại trừ khu vực Bộ tư lệnh sư đoàn 23 bộ
binh còn được trấn giữ...
- 6 giờ chiều ngày 10 tháng 3 năm 1975, trận chiến giữa Việt Nam Cộng Hòa và cọng sản bắc việt được coi như kết thúc. Thành
phố bây giờ như một bãi tha ma, chứa đầy tử khí. Những đống tro tàn của
nhiều khu phố bị cháy, bụi khói và gạch vụn gợi cho người ta cái cảm
xúc của một chiến trường tàn cuộc lạnh lẽo rợn người”. (Nguyễn Định,
BMTNĐCC.) - theo nguồn Quốc Gia Hành Chánh
"Đừng nghe những gì
Việt cộng nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Việt cộng làm"
"Do not listen to what Vietcong
said, but watch closely at what they've done"
Qua những cố gắng không ngừng truy tìm các tài liệu, hình ảnh tội ác của
Việt cộng, mãi cho đến đêm khuya ngày 23/2/2013, VietNamSaiGon đã may mắn
tìm ra được một số hình ảnh liên quan đến vụ Việt cộng thảm sát học sinh
Cai Lậy 1974. Và phục hồi lại các hình ảnh này vào trưa chủ nhật ngày
24/2/2013.
SÀI GÒN, Việt Nam (NV)– Chúng tôi chọn những ngày cuối năm để leo lên ngọn đồi lịch sử Charlie, bởi vì vào lúc này thời tiết không quá khắc nghiệt để lần mò được đến nơi. Mang theo trong chuyến đi, những thứ quan trọng nhất là rượu, hoa và nhang: Quà cho những người mà thế hệ chúng tôi chưa từng biết mặt.
Đường dẫn vào chân đồi Charlie với tấm bảng do nhà cầm quyền dựng lên nhưng mô tả sơ sài. (Hình: Tuấn Khanh cung cấp)
Khác với việc thắp nhang ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, nay nằm trong địa phận tỉnh Bình Dương, đường đi nghĩa trang không khó nhưng lại phải chịu sự dòm ngó và hạch hỏi của nhóm gác cổng do công an địa phương cắt đặt, còn đường đi đến đồi Charlie chỉ có núi rừng, vài tấm bảng chỉ đường phủ đầy bụi đỏ. Thi thoảng trên đường có bắt gặp vài người dân tộc Jarai hay Sedang.
"Dư âm của cuộc hải chiến Hoàng Sa
giữa Việt Nam Cộng Hòa và cộng sản vẫn còn vang dội đến ngày hôm nay.
Có thể chắc chắn mà khẳng định rằng, đối với Việt Nam Cộng Hòa, bảo vệ
toàn vẹn lãnh thổ và chống giặc ngoại xâm là trách nhiệm hàng đầu, bất
kể là hoàn cảnh khả năng có gặp khó khăn đến cỡ nào" - Ký giả Joseph Trevithick
*
Tháng
Giêng năm 1974, Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã khai hỏa bắn vào tàu của
Hải quân cộng sản Trung Quốc tại chuỗi đảo Hoàng Sa, nơi mà hiện nay,
căng thẳng đối đầu đang gia tăng.
Căng
thẳng đối đầu giữa Việt Nam Cộng Hòa và cộng sản Trung Quốc đã có từ
lâu tại nơi này trước khi xảy ra giao tranh. Hải quân Việt Nam Cộng Hòa
thường xuyên phải đuổi ngư dân của Trung Quốc và của các nước khác trong
vùng ra khỏi nơi này ngay từ những năm 1960 dưới sự trợ giúp của Hoa
Kỳ.
Xin
mời quý vị và các bạn xem một đoạn phim về cuộc nói chuyện giữa hai vị
Nguyên Thủ Quốc Gia Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà trước cử tọa là các
chính khách và viên chức ngoại giao của hai nước tại Hoa Kỳ vào năm
1969. Vào ngày 8 tháng 6 năm 1969 Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon
đã gặp Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu tại đảo Midway để
bàn về việc quân đội Hoa Kỳ rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam. Đồng
thời Hoa Kỳ cũng huấn luyện và trang bị thêm nhiều vũ khí cho quân đội
Việt Nam Cộng Hòa. Ngoài ra, Hoa Kỳ muốn mở Hòa đàm Paris để kết thúc
chiến tranh với Cộng sản Bắc Việt và rút quân trong danh dự.
Thế
nhưng vì đã dự định bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa nên sau này Hoa Kỳ đã thất
hứa không tiếp tục cấp viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa nữa (vì
đảng Dân Chủ nắm đa số ghế ở Quốc Hội). Do sự sắp xếp giữa Mỹ và Trung
cộng, Mỹ đã bán đứng nước Việt Nam Cộng Hòa cho đảng cộng sản Bắc Việt
kể từ khi hiệp định Paris được ký kết vào ngày 27 tháng 1 năm 1973. Hoa
Kỳ đã bỏ rơi đồng minh là nước Việt Nam Cộng Hòa chỉ vì lợi lộc về kinh
tế nên đã bắt tay buôn bán với kẻ thù là Trung cộng, cộng với sự ngu đần
của tên Tướng bất tài nhưng hám danh là Dương Văn Minh khiến cho đảng
cộng sản Bắc Việt chiếm được Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa vào trưa ngày 30
tháng 4 năm 1975. Vì không muốn sống dưới chế độ Cộng sản nên
hàng triệu người dân miền Nam đã phải bỏ nước ra đi mặc dầu họ biết rằng
có thể phải bỏ thây ngoài biển cả vì hai chữ Tự Do. Do đó trong dân
gian mới có câu: "cột đèn nếu có chân nó cũng vượt biên luôn".
Mặt Trận Huế ( đây là tài liệu do chính bọn việt gian xác định lá cờ PG Ấn Quang và vai trò của những tên giết người )
Trong cuộc tổng tấn công Mậu Thân chỉ có trận đánh vào Huế của Cộng sản (CS) là thành công và gây tiếng vang. Tuy nhiên đứng trên khía cạnh quân sự thuần túy mà nói, Cộng quân chỉ chiếm được ưu thế trong 4, 5 ngày đầu. Từ mồng 8 tết (6.2.68) trở đi, cường độ các trận đánh giảm hẳn. Cộng quân bất đầu di tản thương binh, tù binh và chuyên chở chiến lợi phẩm ra khỏi thành phố từ ngày nầy. Dân chúng cũng bị ép buộc tản cư khỏi Huế để làm mộc chắn cho các đơn vị CS, và đồng thời cung cấp nhân công cần thiết …
Về quân sự Cộng quân mở hai mặt trận chiếm Huế. Mặt trận tả ngạn (phía bắc) và mặt trận hữu ngạn (phía nam).
I. Mặt trận quân sự 1 Mặt trận phía bắc Gồm các mũi chính: Cửa Chính Tây, cửa An Hòa, Kỳ Đài, sân bay Tây Lộc và đồn Máng Cá.
Cửa Chính Tây
Cửa Chính Tây được một tiểu đội của Đại đội “Hắc Báo” (thám báo) trấn giữ. Người phụ trách “nội công” đánh cửa nầy là Phan Nam (Lương), một cán bộ Thành ủy nằm vùng. Theo lời Nam, chất nổ và vũ khí đã được đưa vào thành nội trước 10 tiếng đồng hồ . Đặc công Cộng quân đã hạ được vọng gác của lực lượng Thám báo và dùng chất nổ phá cổng cho lực lượng chính qui CS từ bờ đối diện sông Đào tràn vào thành nội . Sau khi vượt thành, một đơn vị CS đánh thốc vào Đại nội. Rạng sáng đơn vị Hắc báo chống không nổi phải rút. Việc thất thủ đại nội đã kéo dài thêm các trận đánh ở Huế hàng tuần lễ, vì Cộng quân chỉ cần sử dụng một lực lượng nhỏ đóng chết trên các tường thành dày cả 10 thước tây.
An Hòa
Tại khu vực An Hòa (Tây Nam) một tiểu đoàn (D) của Trung đoàn E.9 (SĐ. 309 Bắc Việt) có nhiệm vụ tấn công cầm chân Tiểu đoàn 2 Dù của Thiếu tá Thạch ở làng An Hòa. Khoảng 2 giờ 30 sáng, một mũi đặc công đã vượt sông đột nhập cổng An Hoà và cùng với cánh quân của E.9 tràn vào làng An Hòa. Tuy nhiên, từ chiều ngày mồng 1 Tết Tiểu đoàn 2 Dù đã không còn ở An Hoà nữa. Cộng quân chiếm cầu Bạch Hổ và phá hủy một nhịp cầu bên tả ngạn để chặn viện binh Mỹ.
– Đồn Mang Cá
Đồn Mang Cá nơi đặt Bộ Tư Lệnh SĐ. 1 BB của Chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng là điểm hẹn của các mũi chủ lực CS. Nguyễn Trọng Đấu, thủ trưởng E.6 chỉ huy. Theo đúng chiến thuật “đặc công làm mồi”, một đại đội Tiểu đoàn 12 đặc công giữ nhiệm vụ xung phong. Đại đội nầy được chia làm 4 mũi từ thôn Triều Sơn Tây dùng “phao ny lông” vượt sông, rồi men theo bờ thành tiến về mục tiêu. Cánh quân chủ lực đánh Mang Cá đã phải dừng lại vì sự chống trả mãnh liệt của quân trú phòng đồn này. CS tiếp tục mở nhiều đợt tấn công. Có lúc, tiền quân CS đã đột nhập được khu bệnh xá và tàn sát một số thương, bệnh binh.
Sân bay Tây Lộc
Một đơn vị đặc công chui theo cống Thủy Quang đột nhập thành nội. Một cán bộ CS nằm vùng đã cắt giây kẽm gai ở miệng cống, và dẫn đường cho toán đặc công nầy tiến vào phi trường. Toán đặc công trên đốt được kho đạn, kho xăng và khu nhân viên kỹ thuật . Tuy nhiên, lực lượng chủ lực của CS bị lạc đường qua trại Quân cụ. Nhờ thế lực lượng phòng thủ kịp thời bố trí, bảo vệ được sân bay…
Kỳ Đài và Thượng Tứ
Kỳ đài nằm trên vòng thành ở cửa Thượng Tứ (Phú Văn Lâu) đi vào. Đơn vị CS có nhiệm vụ treo cờ thuộc được một đặc công đón ở cửa Hữu đưa vào mục tiêu. công nầy chẳng ai khác hơn Dũng, con trai chủ hãng đồ gỗ Lê Hữu Trí. Đang học ở Sài Gòn, Dũng được Trí gọi về Huế, gửi vào mật khu huấn luyện một tuần lễ. Vừa mãn lớp huấn luyện, Dũng nhận công tác ngay. Sau khi chiếm được Kỳ đài, CS treo lên lá cờ Liên Minh các Lực lượng Dân Tộc, Dân Chủ và Hòa Bình Việt Nam . Cờ rộng 96 mét vuông, gồm hai vạt xanh kèm lấy một vạt đỏ có sao vàng ở giữa.
Từ Kỳ Đài, đơn vị CS nầy tiến ra cửa Thượng Tứ, rạp Hưng Đạo và rồi bót Cảnh sát Đông Ba . Ngoài ra, một cánh quân khác tiến chiếm khu Đông Nam và chợ Đông Ba. Các cơ sở như Ty Chiêu Hồi, Ty Thông Tin, Tòa Thượng Thẩm đều bị chiếm và phá hủy tài liệu, cơ sở, vật chất.
2. Mặt trận phía nam Mặt trận phía nam do Thân Trọng Một, Thành đội trưởng Huế chỉ huy. Một là người ‘Huế, biết khá rõ địa hình, địa vật. Lực lượng cơ hữu của Một có “Đoàn 5” gồm 4 tiểu đoàn bộ, Trung đoàn 9 của SĐ. 309 Bắc Việt, một tiểu đoàn ĐKB và 4 đội đặc công .
– Mặt trận Tam Thai
Để có thể tiến quân về Huế an toàn, Cộng quân chọn căn cứ Thiết giáp ở Tam Thai (An Cựu) làm mục tiểu chiến lược, vì sợ rằng chiến xa VNCH sẽ phản ứng gây tai hại cho Cộng quân một khi vào tác chiến trong thành phố. Ba mũi đặc công chia nhau tiến chiếm chân, sườn và đỉnh đồi căn cứ. Vì đã bị đột kích hai tháng trước, hệ thống phòng thủ của căn cứ được tăng cường dày đặc. Bởi thế, hai mũi đặc công ở chân đồi và lưng chừng bị đánh thiệt hại rất nặng. Chỉ mũi đỉnh đồi là thành công.
Trong ngày mồng 2 Tết, lực lượng phản kích VNCH nhiều tân tiến lên tái chiếm đỉnh đồi. Một số lớn đặc công bỏ chạy. Chỉ còn ít chục đặc công tử thủ trong các hầm hố và chết dân mòn ở đây. Tối ngày mồng 3 Tết, Chủ nhiệm Chính trị của Thành đội Huế là Chiến kéo quân lên tăng viện, những â giờ sau Chiến trúng hỏa tiễn chết. Mãi tới đêm Tiểu đoàn 8 1 8 của E.8 mới lên thay thế đám tàn binh đặc công.
– Mặt trận hữu ngạn
Ngay khi đặc công tiến đánh núi Tam Thai, Thân Trọng Một cho các cánh quân cơ hữu vượt sông An Cựu tiến vào thị xã. Khoảng 7 giờ sáng, tiền quân CS đã xâm nhập được các đường phố.
Tuy vậy, các lực lượng phòng thủ chống cự mãnh liệt, mãi tới 4 ngày sau Cộng quân mới lần lượt chiếm được Đại đội Quân cụ, Ty Ngân Khố, Tòa Dại Biếu Bắc Trung Phần, Tòa Hành Chái.th Thừa Thiên, nhà lao Thừa phủ v.v…Hơn 2000 tù nhân tháo cũi sổ lồng tạo thành một lực lượng gây rối đáng sợ. Phía Việt Nam Cộng Hòa chỉ còn giữ vững Tiểu khu Thừa Thiên, Đài Phát Thanh, bản doanh MACV và bến tàu Hải quân.
II Mặt trận Chính trị Mặt trận quan trọng nhất của CS trong đợt tấn công Tết Mậu Thân, thực ra, là mặt trận chính trị. Chính vì mục tiêu chính trị nầy mà Hà Nội đã chẳng hề đếm xỉa đến thực trạng bi thảm, tuyệt vọng của các cán binh từ thủ Huế, ra lệnh tiếp tục chốt giữ khu Đại Nội.
– Thành lập các “Ủy ban Nhân dân Cách mạng”
Người phụ trách công tác “Tổng khởi nghĩa”, hoặc nôm na hơn, thiết lập “chính quyền cách mạng” ở Huế là Hoàng Kim Loan và Hoàng Lanh. Loan là một thành ủy viên, đã vào nằm vùng trong nhà Nguyễn Đóa, một giám thị trung học Quốc Học từ lâu . Loan có nhiệm vụ tổ chức các hủy ban nhân dân” ở khu vực tả ngạn Huế, bao gồm thành nội . Ngay buổi sáng mồng 2 Tết, Loan cùng các cán bộ nằm vùng như Nguyễn Trung Chính tồ chức một cuộc mít-tinh với hàng trăm người tham dự. Trong cuộc mít tinh nầy, một giáo sư trường Quốc gia âm nhạc Kịch nghệ là Nguyễn Hữu Vấn được ~bầư’ làm chủ tịch ủy ban Nhân dân Quận I.
Người phụ trách “tổng khởi nghĩa” ở Quận II là Phan Nam (tức Lương). Nam đưa Nguyễn Thiết (tức Hoàng Dung) lên làm Chủ tịch ủy ban nhân dân quận nầy. Thiết từng là một học sinh “vượt tuyến’l tìm tự do. Sau đó, học Luật và tham gia Ban chấp hành Hội sinh viên Huế. Bị trúng đạn chết ở những ngày tàn của mặt trận Huế. Tại khu vực hữu ngạn (tức thành phố mới) CS chưa có thì giờ thiết lập các ủy ban nhân dân. Mọi nỗ lực của Hoàng Lanh, Thường vụ Thành ủy Huế, đổ dồn vào công tác săn bắt và kiểm tra tù binh.
Ngày 14.2.1968, đài Hà Nội tuyên bố dã thiết lập xong một chính quyền cách mạng ở Huế. Chủ tịch là Lê Văn Hảo, Đào Thị Xuân Yến (bà Tuần Chi) và Hoàng phương Thảo giữ chức Phó chủ tịch.
Liên Minh các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ và Hoà Bình Một trong những việc làm gây nhiều tiếng vang nhất của CS tại Huế là việc nặn ra một tổ chức lấy tên “Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình” (sẽ viết tắt Liên Minh). Việc thành lập tổ chức nầy được Hà Nội loan báo vào ngày mồng 3 Tết (l.2.1968). Người ta chỉ biết đại khái rằng Chủ tịch của tổ chức nầy là Tiến sĩ Lê Văn Hảo, giáo sư Nhân chủng học ở Đại học Huế và Sài Gòn.
Hảo gốc người Huế, sang Pháp học từ năm 1953 vì – theo lời Hảo – sợ phải đi lính. Tại Paris Hảo chịu ảnh hưởng của Trần Văn Khê và Nguyễn Khắc Viện. Về nước năm 1965, Hảo dạy ở Huế và Sài Gòn. Năm 1966, Hảo tham gia phong trào “ly khai” ở Huế. Giữa năm 1967, Hảo được bạn học cũ là Hoàng Phủ Ngọc Tường (Thuyết) và Tôn Thất Dương Tiềm, một cán bộ CS nằm vùng, móc nối vào MTGPMN.
Cuối tháng 12.67 Hảo ra bưng và được khoác áo chủ tịch Liên Minh thành phố Huế. Hoàng Phủ Ngọc Tường làm Tổng thư ký. Sau nầy Hảo trở thành Phó chủ tịch ủy ban Trung ương của Liên minh toàn quốc. Trong số những người được móc nối ra mật khu với Hảo còn có “ôn Linh Mụ” tức Hòa thượng Thích Đôn Hậu của chùa Thiên Mụ, Nguyễn Đóa cựu giám thị Quốc học và nhiều sinh viên, học sinh khác.
– Lực lượng “nghĩa binh”
“Nguyễn Xuân” : thủ lãnh lực lượng “nghĩa binh quân nhân và cảnh sát”
Việc tổ chức lực lượng “nghĩa binh” của CS cũng tiếng vang. Người đưa ra sáng kiến nầy làNguyễn Xuân. Hè 1966, Xuân đã tổ chức đoàn “Phật tử quyết tử” Nguyễn Đắc Xuân
Xuân lợi dụng Đại úy Nguyễn Văn Lợi (sĩ quan VNCH từ Quảng Trị về quê ăn tết bị kẹt) để tổ chức ra một “Đoàn nghĩa binh” qui tụ những quân nhân bị kẹt ở Huế. Trong vài ngày, Lợi tổ chức được một đội quân lên tới hàng trăm người. Sau, vì sợ các “nghĩa binh” này có thể trở ngược đầu súng, CS phân tán mỏng họ. Giữa tháng 2.1968, Lợi bị thương và mất tích. Một số “nghĩa binh” cũng đều tử nạn. Cũng chính Xuân đã tổ chức ra đội “Nghĩa binh Cảnh sát” ở Huế, ép quận trưởng hữu ngạn là Nguyễn Cán chỉ huy. Một trong những nhiệm vụ của đội Nghĩa binh Cảnh sát nầy là ngăn chặn không cho dân di tản khi quân VNCH và Đồng minh phản công.
Bạo Lực Cách Mạng Đi theo các đội đặc công, võ trang tuyên truyền và đơn vị chủ lực CS, dĩ nhiên phải có những đơn vị “an ninh”. Vai trò của các toán “an ninh” nầy được đặc biệt chú ý vì chỉ huy trưởng chiến đoàn là Lê (Tư) Minh, Trưởng ban An ninh khu ủy Trị Thiên. Tống Hoàng Nguyên và Nguyễn Đình Bảy (Bảy Khiêm), hai cán bộ an ninh cấp khu, trực tiếp điều khiển những cuộc thủ tiêu, bắt giữ ở khu tả ngạn và hữu ngạn. Tại khu tả ngạn, dưới quyền Nguyên, các toán an ninh có hai nhiệm vụ : Lùng bắt các sĩ quan, viên chức cao cấp trong vùng, và “bảo vệ” một số khuôn mặt “chính trị” như Thích Đôn Hậu, bà Tuần Chi, Nguyễn Đóa, Lê Văn Hảo v.v…
Tại khu hữu ngạn bảy Khiêm dồn mọi nổ lực để săn bắt các viên chức chính quyền và những người mà Bảy Khiêm gọi là “nhân viên CIA”. Theo Bảy Khiêm, chính y đã giết chết Phó tỉnh Thừa Thiên là Trần Đình Phương , bắt sống ông Nguyễn Văn Đãi, đại diện chính phủ Bắc-Trung Nguyên Trung phần; Bảo Lộc Phó Tỉnh Thừa Thiên; Hồ Thúc Tứ, ủy viên Trung ương Quốc Dân Đảng; Trần Diễn, ủy viên Trung ương đảng Đại Việt và nhiều người khác nữa.Toán của Khiêm còn bắt một số giáo sư Đại học ngoại quốc và thủ tiêu họ với tội danh CIA .
Cũng chính Bảy Khiêm là người tìm ra đường hầm dẫn vào nhà lao Thừa Phủ, giải cứu 2.300 can phạm. 500 can phạm nầy được trang bị khí giới ngay ngày mồng 4. Thật khó để ước lượng chính xác số người bị CS tàn sát tại Huế trong địp Tết Mậu Thân. Nhưng theo Lê Minh, việc tàn sát tù binh và dân chúng là chuyện có thực : Sau khi biện dẫn rằng ngay đến cuộc cách mạng 1789 của Pháp cũng có người bị giết oan. Minh tự biện hộ là “đã ở trong một hoàn cảnh quá khó khăn đến không thể nào kiểm soát nổi những hành động thô bạo” của cán binh, du kích và cán bộ CS.
III Phản công của VNCH Cuộc phản công của QLVNCH khởi đầu ngày mồng 3 Tết Mậu Thân (l.2.1968). Quân Dù tiến chiếm từng căn nhà. CS rút lui vào nội thành, khai thác tối đa công sự phòng thủ của vòng thành. Qua ngày mồng 4 tết, sau khi mặt trận Quảng Trị đã tạm yên Tiểu đoàn 9 Dù của Thiếu tá Nhã mới được trực thăng vận vào Mang Cá. Mũi chủ lực của Chiến đoàn 1 dù cũng xuyên qua tường thành tiến vào giải vây cho các binh sĩ phòng ngự sân bay Tây Lộc.
Sang ngày mồng 5 Tết, lực lượng Dù giải tỏa được nửa phi trường và tái chiếm cửa An Cựu. Nhưng các mũi tiến về hướng Đại Nội bị chặn lại.
Trận chiến kéo dài thêm 3, 4 ngày không có tiến triển. Ngày mồng 9 Tết (7.2), Cộng quân được tăng cường thêm 2 tiểu đoàn và phản công gây thiệt hại nặng cho Tiểu đoàn 4/3 quân Cộng hoà. Cũng trong đêm, trước nguy cơ viện binh Đồng minh từ hữu ngạn kéo sang, Cộng quân đánh sập cầu Trường Tiền.
Nói chung cả hai phe đều mỏi mệt và có những trở ngại. Chiến đoàn 1 Dù đã quá vất vả, đặc biệt là tiểu đoàn 9 Dù mới bị thiệt hại nặng nề ở Quảng Trị.
Phe Cộng quân, tình hình nghiêm trọng hơn. Đạn dược bất đầu cạn. Đơn vị pháo chỉ còn nửa cấp số. Thương vong ở trong nội thành đã lên tới 300 người mà không di tản được Ngày mồng 5 Tết (4.68), trước nguy cơ quân Mỹ bất đầu nhập trận, Lê Minh quyết định rút khỏi thành phố. CS gửi điện ra Hà Nội báo cáo ” hết đạn”. Hà nội bắt tử thủ và hứa cho tiếp viện.
Trong khi đó, phe Đồng minh và VNCH bắt đầu phát động một đợt phản công mới.
Ngày 12.2.68 hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến được đổ bộ xuống Bao Vinh, và nhập trận hai ngày sau. Các đơn vị TQLC Hoa Kỳ cũng đổ bộ lên bến Bao Vinh, rồi từ đây vượt qua cổng hậu vào Thành Nội. Ngày 13.2.68 mưa phùn đột ngột dứt. Lần đầu tiên sau 15 ngày, Huế có ánh mặt trời. Phi cơ thi nhau lên đánh bom dữ dội khu vực La Chữ, nơi tình nghi đặt Bộ chỉ huy CS.
[ Nhờ một Nghĩa quân bị bắt trốn thoát cho tin Bộ chỉ huy cao cấp của CS đóng ở làng La Chữ nên đồng minh Hoa Kỳ mở cuộc hành quân vào vùng này. Cuộc chiến vô cùng gay go vì Cộng quân quyết tử thủ. 9 trực thăng của Mỹ bị hạ. Tổn thất nhân sự phía đồng minh thật nặng nề, trên 100 người chết. Ngày 25, 26 tháng 2, sau khi thất thủ Huế, CS mới cho lệnh rút lui. Hồi ký của Văn Tiến Dũng nói đến cái chết của hai vị tướng. Có lẽ cả hai bị từ thương ở mặt trận này. Theo Nguyễn Lý Tưỏng: Chớp bể mưa nguồn]
Ngày 14.2.68 chiến dịch Sóng Thần 739/68 của Liên quân TQLC và Hoa Kỳ bắt đầu.
1 Mặt trận Hữu ngạn. Khi Chiến đoàn 1 Dù vào giải vây đồn Mang Cá và thành nội ngày 3.2.68, quân lực Hoa Kỳ cũng tiến vào Huế.
Tại tả ngạn, các đơn vị SĐ I Không kỵ Mỹ chỉ phối hợp vời lực lượng Dù và Bộ binh VNCH trấn giữ vòng ngoài.
Tại hữu ngạn, nơi có Bộ chỉ huy MACV, TQLC Mỹ từ Bộ chỉ huy MACV bắt đầu mở những cuộc hành quân lục soát quanh khu vực đóng quân. Từ phía Nam, chiến đoàn RAY gồm hai đại đội TQLC khác của SĐ. I TQLC Hoa Kỳ cũng từ đầu cầu An Cựu tiến lên phía Bắc.
Với mục đích tiêu diệt địch hơn chiếm đất, TQLC Mỹ ban ngày xuất trận, ban đêm kéo về thủ Bộ chỉ huy MACV. Mãi tới ngày 1 1 âm lịch (tức 9.2.68), TQLC Mỹ mới thanh toán xong các khu vực sân vận động, nhà Ga, và Phủ Cam. Tỉnh đến ngày nầy, theo bản tin quân sự của chính phủ, tại hữu ngạn sông Hương TQLC Hoa Kỳ đã giết chết 934 cộng quân, bắt sống 4 tù binh, thu 307 súng đủ loại Phía Hoa Kỳ chỉ có 31 chết, 201 bị thương nặng, 80 bị thương nhẹ.
Qua chiều ngày 10.2.68, thêm nhiều đơn vị TQLC Mỹ được trực thăng vận hoặc di chuyển bằng quân xa vào khu vực hữu ngạn. Nhờ sự hiện diện của các đơn vị nầy, lực lượng địa phương của tỉnh Thừa Thiên bắt đâu hoạt động trở lại: thu nhặt những xác chết đã sình thối, tổ chức việc trợ cấp các nạn nhân chiến tranh cũng như lục soát truy kích tàn quân CS.
Có thể nói khi cuộc hành quân Sóng Thần 739168 được phát động để tái chiếm khu Đại Nội vào ngày 14.2.68 thì tình hình hữu ngạn đã yên ồn, mặc dù Bộ chỉ huy của Thân Trọng Một còn lẩn quẩn ở khu Lăng Tự Đức cho tới ngày cuối cùng (25.2.68).
2. Hành quân Sóng Thần 739/68 Trong cuộc hành quân giải tỏa Thành Nội Huế, toàn bộ mặt trận được chia làm 5 khu vực.
1 Khu A, gồm góc đông Bắc, tức Mang Cá lớn và Mang Cá nhỏ. Khu nầy tương đối an toàn.
2- Khu B, tức khu chính Đông bao gồm cả chợ Đông Ba. Mặc dù một số cán binh CS còn “chết” trên thành, quân VNCH đã kiểm soát dưới đường phố.
3- Khu C, là góc Tây Bắc, gồm phường Tây Lộc và Tây Linh. Trung đoàn 3 của Trung tá Phan Bá Hòa chịu trách nhiệm khu vực nầy. Cộng quân còn giữ khu vực Chính Tây thuộc phạm vi phường Tây Linh, kể cả nhà thờ họ đạo ở đây.
4- Khu D, tức phía đông Đài nội, có cửa Thượng Tứ và Đông Ba. Khu nầy do Tiểu đoàn 115 TQLC Mỹ đảm trách. Đây là một đơn vị rất thiện chiến, có tới 1 000 binh sĩ và được tăng phái trung và trọng pháo.
5- Khu E, bao gồm khu vực Cộng quân cố thủ ở Kỳ Đài, Ngọ Môn và cửa Thượng Tứ.
6- Khu F, là góc Tây Nam Thành Nội do chiến đoàn A TQLC Việt Nam trách nhiệm.
Cuộc hành quân giải tỏa phát triển rất chậm vì thời tiết xấu và phòng thủ kiên cố của tàn quân CS. Vũ khí lợi hại nhất của VNCH và Đồng Minh là không lực lại bị hạn chế tối đa. Các họng phòng không trên bờ thành cũng khiến trực thăng võ trang không hoạt động đúng khả năng.
Tại khu vực D, tức khu Đông Nam Đại Nội, nhất là cửa Đông Ba, TQLC của Hoa Kỳ cũng tranh giành từng cao điềm với Cộng quân. Theo Lê Minh, người chỉ huy mặt trận Huế, trận đánh “thật khốc liệt”, đôi khi hai bên chỉ cách nhau vài chục mét. Sáng ngày 18.2.68, TQLC Mỹ đã chiếm được hoàn toàn cửa Đông Ba.
Trước áp lực của các cánh quân đồng minh và VNCH, ngày 19.2.68 Lê Minh quyết định rút, dù đã có công điện ngày 15.2.68 của Hà Nội : “Phải giữ thành nội, không được rút ra ngoài đã phục vụ nhiệm vụ chính trị chung cả nước” . Trần Anh Liên, chính ủy khu tả ngạn, được lệnh chuyển thương binh ra ngoài. Tống Hoàng Nguyên có nhiệm vụ dẫn giải tù binh. Những “cơ sở” đã lộ được đưa vào rừng. “Cơ sở” còn trong bí mật được gài theo dân tản cư.
Ngày 22.2.68, những cấp chỉ huy của CS bắt đầu rời thành nội.
Cuộc rút quân của CS, như Lê Minh thú nhận, là ở vào thế chẳng đặng đừng. Quân VNCH và đồng minh đã xiết chặt dần vòng vây quanh Huế.
Các đơn vị TQLC Việt Nam Cộng Hòa tái chiếm được cửa hữu . Ngày hôm sau, tiến đánh Nam Đài, cửa Nhà Đồ và khu vực đường Tôn Thất Thiệp.
Trong khi đó, một đơn vị nhỏ của SĐ I Ba đã chiếm được Kỳ Đài, triệt hạ lá cờ của Mặt Trận Liên Minh các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình. Lá cờ vàng, ba sọc đỏ của VNCH được gương lên, báo hiệu cơn ác mộng, cơn sét xuất huyết của Huế đã qua.
Tuy nhiên một câu hỏi đặt ra : Cộng quân đã “biến” đi cách nào? Theo tài liệu CS, bất đầu từ ngày 6.2.68 (mồng 8 Tết), thương binh, tù binh và chiến lợi phẩm đã được bí mật chuyển khỏi thành phố. Dân chúng cũng bị bắt buộc tản cư để làm bình phong và cung cấp nhân lực vận tải. Tuy nhiên khi ra khỏi địa phận thị xã (về hướng Phú Vang), những đoàn nầy bị các lực lượng SĐ. I Không kỵ cũng như phi pháo đánh tan nát. Quân Mỹ đã giải thoát được một số tù binh dân sự Mỹ cũng như đoạt lại tất cả lương thực “chiến lợi phẩm”. Chính vào thời gian nầy, việc tàn sát tập thể một số quân nhân, công chức VNCH và thường dân đã xảy ra. Mười sáu ngày sau, 22.2.68, các đơn vị chủ lực bát đầu rút lui. Cuộc triệt thoái nầy kéo dài 5 ngày. Mãi tới nửa đêm ngày 26.2.68 cán binh CS cuối cùng mới rời khỏi Huế, bôn tẩu về Phú Vang.